Theo quy định pháp luật, quan hệ lao động được phát sinh kể từ thời điểm người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc lời nói (đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng). Trong hợp đồng lao động phải xác định rõ là hợp đồng lao động xác định thời hạn hay không xác định thời hạn. Điều này dẫn đến thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động cũng khác nhau.

Trước hết, người lao động cần hiểu rõ ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như do hết hạn hợp đồng, người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận chấm dứt hợp đồng,… thì pháp luật vẫn cho phép một bên được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần có sự thoả thuận hoặc đồng ý của bên còn lại theo quy định của pháp luật. Nội dung này đã được minh thị tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021). Theo quy định này, trong trường hợp muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động chỉ cần đảm bảo thủ tục thông báo trước thời điểm chấm dứt hợp đồng với người sử dụng lao động mà không phụ thuộc vào lý do chấm dứt như thế nào. Cụ thể, đối với từng loại hợp đồng lao động, thời gian thông báo trước như sau:

  • Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn: ít nhất 45 ngày;
  • Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng: ít nhất 30 ngày;
  • Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng: ít nhất 03 ngày làm việc.

(Người lao động cần chú ý, “ngày” và “ngày làm việc” là hai khái niệm khác nhau, “ngày làm việc” không bao gồm ngày nghỉ cuối tuần và ngày lễ, tết theo quy định của chính phủ.)

Bên cạnh đó, đối với người lao động làm việc trong các ngành nghề đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện như sau:

  • Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên: ít nhất 120 ngày;
  • Hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng: ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động.

Về hình thức thông báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, vì hiện nay pháp luật không quy định rõ việc thông báo phải được thực hiện bằng hình thức nào nên về nguyên tắc, việc thông báo bằng miệng vẫn được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, để phòng tránh rủi ro pháp lý như không chứng minh được việc thông báo, người lao động nên thông báo bằng văn bản hoặc các hình thức khác tương đương với văn bản như thư điện tử, fax,…

Nhìn chung, pháp luật lao động yêu cầu người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ thời gian báo trước để doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tìm kiếm nhân sự mới thay thế hoặc bàn giao công việc,… nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn cho phép người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước trong các trường hợp sau:

  • Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật lao động;
  • Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật lao động;
  • Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
  • Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
  • Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 1381 của Bộ luật lao động;
  • Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật lao động, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
  • Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 162 của Bộ luật lao động làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.