Trước hết, khái niệm kỷ luật lao động đã được thay đổi so với Bộ luật lao động năm 2012 (BLLĐ 2012). Cụ thể, trong khi Điều 118 BLLĐ 2012 quy định: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động” thì BLLĐ 2019 đã bổ sung kỷ luật lao động còn bao gồm những quy định do pháp luật quy định tại Điều 117 như sau: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định”.
Cũng vì sự thay đổi đó, Điều 127 BLLĐ 2019 đã bổ sung hành vi bị cấm khi xử lý kỷ luật lao động đó là xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thoả thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không có quy định. Quy định này đã “nới lỏng” phạm vi mà người sử dụng lao động được quyền xử lý kỷ luật đối với người lao động. Thay vì chỉ được xử lý kỷ luật lao động đối với những hành vi đã được quy định trong nội quy lao động, bộ luật mới còn cho phép được xử lý kỷ luật đối với những hành vi đã được thoả thuận trong hợp đồng lao động hoặc pháp luật lao động có quy định cho phép xử lý kỷ luật lao động (ví dụ: khoản 6 Điều 56 BLLĐ 2019 quy định doanh nghiệp cho thuê lại lao động được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi bên thuê lại lao động trả lại người lao động do vi phạm kỷ luật lao động).
Một trong những điểm mới của BLLĐ 2019 cần chú ý đó là thời hiệu xử lý kỷ luật lao động. Cụ thể, Điều 123 Bộ luật này quy định:
“1. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng.
2. Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật này, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
3. Người sử dụng lao động phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”
So với BLLĐ 2012, Bộ luật mới không còn giới hạn thời hiệu xử lý kỷ luật lao động (khoản 1 Điều 124 BLLĐ 2012 quy định thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 06 tháng, trường hợp được kéo dài thời hiệu thì tối đa là 12 tháng). Nhìn chung, quy định này nhằm khắc phục lỗi kỹ thuật soạn thảo của BLLĐ 2012. Bởi vì, khoản 3 Điều 124 BLLĐ cho phép được xử lý kỷ luật lao động khi đã hết thời hiệu quy định tại khoản 1 (tức kéo dài thời hiệu hơn 06 tháng hoặc 12 tháng nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày kết thúc thời hiệu này) nên việc sử dụng cụm từ “tối đa” là không phù hợp. Bên cạnh đó, ngay tại quy định kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật, Bộ luật mới đã bổ sung: “Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 1221 của Bộ luật này, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên”. Như vậy, theo quy định mới, khi hết thời gian không được xử lý kỷ luật mà còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì người sử dụng lao động sẽ được kéo dài thời hiệu tối đa là 60 ngày.
Ngoài ra, BLLĐ 2019 còn bổ sung thêm trường hợp người sử dụng lao động có quyền sa thải người lao động có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc tại khoản 2 Điều 125. Tuy nhiên, hành vi này phải được quy định rõ trong nội quy lao động. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 125 đã sửa đổi cách tính thời gian được coi là người lao động tự ý bỏ việc: “Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngàyhoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng”. Trước đây, theo BLLĐ 2012, thời gian này được tính là 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm dẫn đến tình huống thực tế khó xử lý kỷ luật lao động và sau đó chính phủ phải ban hành nghị định số 05/2015/NĐ-CP để giải thích thời gian này.
0 Comments on "Quy định mới về xử lý kỷ luật lao động từ ngày 01/01/2021"